1. KHÍ

Khí là một khái niệm trừu tượng nhưng lại rất phổ biến và quan trọng trong Phong Thủy. Để hiểu được Phong Thủy, chúng ta không thể không biết qua những khái niệm của cổ nhân về khí. Những ý nghĩa của khí trong Phong Thủy bao gồm:
 
Khí là nguồn năng lượng sống của vũ trụ, là nguồn gốc của vạn vật, và cũng là điều kiện đầu tiên để hình thành sự sống. Khí được chia thành nhiều loại như: Sinh khí, tử khí, dương khí, âm khí, thổ khí, địa khí, tụ khí, nạp khí ... Con người phải tiếp nhận được sinh khí mà tránh đi tử khí mới tốt.
 
• Không chỉ tồn tại ở một hình thể vô hình trừu tượng,  khí còn biến hóa vô cùng thành những hình ảnh khác. Theo sự biến hóa đó, khí được thể hiện qua hình ảnh của Thủy (nước). Ngoài thể hiện qua hình ảnh dòng chảy của nước, khí còn được thể hiện qua thế đất, qua hình ảnh của núi đồi. Khi chọn vị trí xây nhà hay làm mộ, những nhà nghiên cứu Phong Thủy xưa thường bỏ nhiều công sức để tìm kiếm long khí tốt ở những nơi có thế đất đẹp hoặc ở những vùng núi đồi cũng xuất phát từ quan niệm này.
 
Khí có sự ảnh hưởng rất quan trọng đến cuộc sống con người. Khí quyết định họa phước của con người. Vì vậy mà con người phải luôn tìm cách đón nhận sinh khí và tránh tử khí, có như vậy thì vận số mới được tăng cao, gặp được phước mà tránh được họa.
 
• Không chỉ đối với người đang sống, mà khí còn ảnh hưởng đối với cả những người đã khuất. Phong Thủy quan niệm nơi chôn cất tổ tiên là gốc của con cháu đời sau. Nếu tổ tiên được mai táng ở nơi có địa thể tốt lành, tức là được chôn cất ở nơi có thể nhận được sinh khí, thì vận số cũng như tài lộc của con cháu đời sau sẽ theo đó mà càng thêm hưng vượng.
 
2. THUYẾT ÂM DƯƠNG
Như đã giới thiệu, vì mang tính chất cốt lõi cơ bản nên chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy khái niệm Âm Dương mang ý nghĩa bao trùm lên tất cả phương pháp lý luận và diễn giải trong hệ thống triết lý của Trung Quốc cổ đại.
 
Một số ví dụ về sự vật trong tự nhiên được gắn với thuộc tính Âm - Dương sau đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về tính chất này:
TÍNH CHẤT
TÊN SỰ VẬT
Dương
Mặt trời
Đàn ông
Trời
Âm
Mặt trăng
Đàn bà
Đất
 
3. THUYẾT NGŨ HÀNH
Ngũ hành chính là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là 5 loại vật chất cấu tạo nên vạn vật trong vũ trụ.
Quy luật tương sinh của ngũ hành
Tương sinh là sự hỗ trợ làm cho mạnh hơn, tốt hơn từ một hành này lên một hành khác trong Ngũ Hành.
Quy luật tương sinh: Thủy → Mộc → Hỏa → Thổ → Kim → Thủy
 
• Quy luật tương khắc trong Ngũ Hành
Tương khắc là sự kiềm hãm, khắc chế từ một hành này lên hành khác trong Ngũ Hành.
Quy luật tương khắc: Thủy → Hỏa → Kim → Mộc → Thổ → Thủy
 
VÒNG TRÒN BIỂU HIỆN QUY LUẬT TƯƠNG SINH VÀ TƯƠNG KHẮC
Những khái niệm phong thủy quan trọng cần biết trước khi vận dụng vào cuộc sống
 
4. THIÊN CAN
Thiên can gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Thiên can vốn được phối hợp với 12 địa chi để tính năm tháng ngày giờ trong Âm lịch.
 
a. Thiên can tương hợp
Giáp - Kỷ hợp thì hóa Thổ.
Ất - Canh hợp thì hóa Kim.
Bính  - Tân hợp thì hóa Thủy.
Đinh - Nhâm hợp thì hóa Mộc.
Mậu - Quý hợp thì hóa Hỏa.
 
b. Thiên can tương xung
Giáp - Canh tương xung.
Ất - Tân tương xung.
Bính - Nhâm tương xung.
Đinh - Quý tương xung.
 
Ngoài ra trong Phong Thủy, Thiên can còn đại diện cho phương vị. Thuộc tính Ngũ hành Âm - Dương của các thiên can trong Phong Thủy và vị trí tương ứng của chúng với phương hướng theo bản đồ ngày nay như sau:
 
Thiên can
Ngũ hành Âm - Dương
Phương hướng
Giáp
Mộc (Dương)
Đông
Ất
Mộc (Âm)
Đông
Bính
Hỏa (Dương)
Nam
Đinh
Hỏa (Âm)
Nam
Mậu
Thổ (Dương)
Vị trí trung tâm
Kỷ
Thổ (Âm)
Vị trí trung tâm
Canh
Kim (Dương)
Tây
Tân
Kim (Âm)
Tây
Nhâm
Thủy (Dương)
Bắc
Quý
Thủy (Âm)
Bắc
 
5. ĐỊA CHI
Địa chi gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Ngoài mục đích dùng để tượng trưng cho 12 con giáp theo cách tính tuổi của Âm lịch, Địa chi còn dùng để đại diện cho phương vị trong Phong Thủy.
 
Hướng
Địa Chi
Bắc
Đông Bắc
Sửu, Dần
Đông
Mão
Đông Nam
Thìn, Tỵ
Nam
Ngọ
Tây Nam
Mùi, Thân
Tây
Dậu
Tây Bắc
Tuất, Hợi

 

Thuộc tính Ngũ hành Âm - Dương của các địa chi trong Phong Thủy và vị trí tương ứng của chúng với phương hướng theo bản đồ ngày nay như sau:

Địa chi
Ngũ hành Âm - Dương
Phương hướng
Thủy (Dương)
Bắc
Sửu
Thổ (Âm)
Vị trí trung tâm
Dần
Mộc (Dương)
Đông Bắc
Mão
Mộc (Âm)
Đông
Thìn
Thổ (Dương)
Vị trí trung tâm
Tỵ
Hỏa (Âm)
Đông Nam
Ngọ
Hỏa (Dương)
Nam
Mùi
Thổ (Âm)
Vị trí trung tâm
Thân
Kim (Dương)
Tây Nam
Dậu
Kim (Âm)
Tây
Tuất
Thổ (Dương)
Vị trí trung tâm
Hợi
Thủy (Âm)
Tây Bắc
 
a. Địa chi lục hợp
Tý - Sửu hợp hóa Thổ
Dần - Hợi hợp hóa Mộc
Mão - Tuất hợp hóa Hỏa
Thìn - Dậu hợp hóa Kim
Tỵ - Thân hợp hóa Thủy
Ngọ - Mùi hợp hóa Hỏa
 
b. Địa chi tam hợp
Thân - Tý - Thìn hợp hóa Thủy cuộc.
Tỵ - Dậu - Sửu hợp hóa Kim cuộc.
Dần - Ngọ - Tuất hợp hóa Hỏa cuộc.
Hợi - Mão - Mùi hợp hóa Mộc cuộc.
 
c. Địa chi tương xung
Tý - Ngọ tương xung.
Sửu - Mùi tương xung.
Dần - Thân tương xung.
Mão - Dậu tương xung.
Thìn - Tuất tương xung.
Tỵ - Hợi tương xung.
 
6. BÁT QUÁI
a. Nguồn gốc hình thành nên bát quái
Muốn tìm hiểu Bát Quái cho rõ ngọn nghành, chúng ta cần phải biết qua nguyên tắc Dịch lý của Trung Hoa; nói một cách khác, nguyên tắc này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ được khái niệm Bát Quái xuất phát từ đâu.
 
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này như sau:
“Dịch” nghĩa là sự chuyển động không ngừng của vũ trụ và vạn vật, theo sự lý luận của Dịch lý; Không có một vật nào, cho dù là hữu hình hay vô hình lại có thể nằm ngoài nguyên tắc này.
 
Theo các sách cổ thư, lúc đầu vũ trụ chỉ là một khoảng không vô hình, vô sắc, không có tên, không có tuổi, vì thế nên mới có tên gọi là Vô cực. Vô cực chuyển động sinh ra Thái cực, lúc này Thái cực mới bắt đầu là vật đã có hình, có sắc. Thái cực lại chuyển động lại sinh ra Lưỡng nghi, lưỡng nghi chính là khái niệm về hai khí Âm và Dương. Hai khí âm và dương chuyển động mà sinh ra Tứ Tượng, tứ tượng bao gồm hai khí Âm và hai khí Dương ở hai trạng thái khác nhau, cụ thể như sau:
 
Lão Âm còn gọi là TháiÂm, tức là khí Âm đã trưởng thành, chuẩn bị suy tàn và biến đi.
Thiếu Âm là khí Âm còn non, sắp trưởng thành để trở thành khí Thái Âm.
Lão Dương còn gọi là Thái Dương, tức là khí Dương đã trưởng thành, chuẩn bị suy tàn và biến đi.
Thiếu dương là khí Dương còn non, sắp trưởng thành để trở thành khí Thái Dương.
 
Như phần trên đã giới thiệu, Tứ tượng được sinh ra từ sự vận động của lưỡng nghi. Tiếp theo đó, tứ tượng lại tiếp tục vận động để sinh ra Bát Quái. Bát Quái được chia thành 8 thành phần, gọi là 8 quẻ và có tên gọi như sau: Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.
 
• Thuộc tính ngũ hành của các cung bát quái
Kiền                thuộc hành                  Kim
Khảm              .................                   Thủy
Cấn                  .................                   Thổ
Chấn                .................                   Mộc
Tốn                  .................                   Mộc
Ly                    .................                   Hỏa
Khôn               .................                   Thổ
Đoài                .................                   Kim
 
Quan hệ gia đình tượng trưng bởi Bát Quái
            Kiền                tượng trưng cho          Cha (chủ gia đình)
            Khôn               .................                   Mẹ
            Chấn                .................                   Trưởng Nam
            Tốn                  .................                   Trưởng nữ
            Khảm              .................                   Thứ nam
            Ly                    .................                   Thứ nữ
            Cấn                  .................                   Thiếu nam (út nam)
            Đoài                .................                   Thiếu nữ (út nữ)
 
7. NHỊ THẬP TỨ SƠN, TRẠCH QUÁI VÀ MỆNH QUÁI TRONG PHONG THỦY
a. Nhị thập tứ sơn (24 sơn)
Cách xác định phương hướng của con người vốn trải qua một thời kỳ phát triển lâu dài, bắt đầu là 4 phương: Đông - Tây - Nam - Bắc ở thời kỳ đầu rồi phát triển lên 8 hướng, 16 hướng và cuối cùng là 24 hướng, rất chi tiết và tinh tế như hiện nay.
 
Cách chia phương hướng ra 24 vị trí như hiện nay được đánh giá là cách chia phương vị cơ bản nhất, thường dùng trong Phong Thủy. Vậy xuất xứ của cách chia này được bắt nguồn từ đâu? Câu trả lời cho vấn đề này có thể sẽ khiến cho một số bạn đọc ngạc nhiên, vì cách chia phương hướng như trên lại có sự liên quan hết sức mật thiết đến cách phân chia 24 tiết khí trong năm.
 
Ngược dòng lịch sử, Trung Quốc vốn là một quốc gia có nên kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Vì thế mà người nông dân ngày xưa xem thời tiết 4 mùa là yếu tố hết sức quan trọng đến cuộc sống, và để tiện việc tính toán thời điểm gieo gặt nông sản, họ đã chia một năm làm 24 tiết khí.
 
Sở dĩ có cách chia như vậy vì theo tính toán ngày xưa, một năm sẽ có 365 ngày, như vậy mỗi tiết khí sẽ có 15 ngày, tức một năm có 24 tiết khí.
 
Khi thuật Phong Thủy ra đời, và nhất là từ khi la bàn Phong Thủy được sử dụng một cách rộng rãi trong việc xác định các hướng hung cát, cổ nhân đã chính thức phối hợp yếu tố thời gian và không gian thành một khái niệm hợp nhất. Từ đó mà 24 phương vị trên la bàn Phong Thủy có sự liên quan mật thiết đến sự phân chia 24 tiết khí trong năm và 24 phương vị này được gọi tên là 24 Sơn từ đó. Như vậy nếu là bàn Phong Thủy thể hiện cho một vòng tròn 360o, khi phối hợp thêm 24 sơn vào la bàn thì mỗi sơn sẽ chiếm một góc là 15o.
 
Ngoài ra trong là bàn Phong Thủy còn thể hiện 8 cung của Bát Quái, mỗi cung là 45O, như vậy mỗi cung sẽ gồm có 3 sơn, mỗi sơn chiếm một góc 5o, trong Phong Thủy thường gọi là Nhất quái quản tam sơn” (một quẻ có 3 sơn). 24 sơn được đặt tên bằng cách phối hợp giữa 8 Thiên Can, 12 Địa Chi và 4 cung trong Bát Quái mà thành.
 
Bảng dưới đây sẽ thể hiện sự tương ứng giữa phương hướng theo bản đồ ngày nay với các cung của Bát Quái và 24 sơn trên la bàn Phong Thủy.
 
Hướng
Bát Quái
24 Sơn
Nam
Ly
Bính, Ngọ, Đinh
Tây Nam
Khôn
Mùi, Khôn, Thân
Tây
Đoài
Canh, Dậu, Tân
Tây Bắc
Kiền
Tuất, Kiền, Hợi
Bắc
Khảm
Nhâm, Tý, Quý
Đông Bắc
Cấn
Sửu, Cấn, Dần
Đông
Chấn
Giáp, Mão, Ất
Đông Nam
Tốn
Thìn, Tốn, Tỵ
 
b. Trạch quái
Thuật Phong Thủy thường nhắc nhiều đến chữ “tọa” hoặc chữ “hướng”. vậy “tọa” là gì? Nếu cửa chính của ngôi nhà nhìn ra khoảng không gian ở phía trước mặt thuộc về phương nào đi đó gọi là “hướng”. Ngược lại với “hướng”, vị trí đứng chân của ngôi nhà sẽ được gọi là “tọa”.
Ví dụ: Khi ta đứng ngay tại cửa chính của ngôi nhà, trước mắt ta là phương Bắc (Ngọ), sau lưng là phương Nam (); vậy ta nói rằng: Ngôi nhà tọa ở Tý (Nam), hướng Ngọ (Bắc).
 
Phong Thủy chia nhà ở thành 8 loại. Nguyên lý của nó là lấy sự tương ứng giữa tọa hướng của ngôi nhà với 8 quái trong Bát quái và 24 sơn (trên la bàn Phong Thủy) được thể hiện ở bảng trên để định ra Trạch quái.
 
Dưới đây là 8 loại nhà ở đã được phối hợp tọa hướng với 24 sơn:
- Loại Chấn trạch: Tọa Giáp, Mão, Ất; hướng Canh, Dậu, Tân. (Nhà tọa ở Đông, nhìn ra hướng Tây).
- Loại Tốn Trạch: Tọa Thìn, Tốn, Tỵ; hướng Tuất, Kiền, Hợi. (Nhà tọa ở Nam, nhìn ra hướng Bắc).
- Loại Khôn trạch: Tọa Mùi, Khôn, Thân; hướng Sửu, Cấn, Dần. (Nhà tọa ở Tây Nam, nhìn ra hướng Đông Bắc).
- Loại Đoài Trạch: Tọa Canh, Dậu, Tân; hướng Giáp, Mão, Ất (Nhà tọa ở Tây, nhìn ra hướng Đông).
- Loại Kiền trạch: Tọa Tuất, Kiền, Hợi; hướng Thìn, Tốn, Tỵ. (Nhà tọa ở Tây Bắc, nhìn ra hướng Đông Nam).
- Loại Khảm trạch: Tọa Nhâm, Tý, Quý; hướng Bính, Ngọ, Đinh. (Nhà tọa ở Bắc, nhìn ra hướng Nam).
- Loại Cấn trạch: Tọa Sửu, Cấn, Dần; hướng Mùi, Khôn, Thân. (Nhà tọa ở Đông Bắc, nhìn ra hướng Tây Nam).
 
Do Phong Thủy rất chú trọng sự tương hợp giữa nhà ở và gia chủ. Nếu vận khí ngôi nhà và vận mệnh gia chủ tương hợp với nhau thì cát lợi. Ngược lại, nếu nhà ở không tương hợp với vận mệnh gia chủ thì hung.
 
Như đã biết, mỗi quẻ đều có thuộc tính Ngũ Hành. Căn cứ vào Ngũ Hành sinh khắc của mỗi quái, các nhà Phong Thủy chia ngôi nhà ra thành hai nhóm chính, mỗi nhóm 4 quẻ, còn gọi là 4 trạch Đông và 4 trạch Tây, gồm có:
 
- Nhóm Kiền, Đoài, Cấn, Khôn: Ta nhận thấy Kiền và Cấn, Đoài và Khôn, Kiền và Khôn, Đoài và Cấn tất cả đều là Thổ sinh Kim. Tổ hợp này gọi là bốn quái Tây.
- Nhóm Khảm, Ly, Chấn, Tốn: Ta nhận thấy Khảm và Tốn là Thủy sinh Mộc, Tôn với Ly là Mộc sinh Hỏa. Tất cả đều là mối quan hệ tương sinh nên tương hợp với nhau. Tổ hợp này gọi là bốn quái Đông.
 
c. Mệnh quái
Mệnh quái là vận mệnh của mỗi người tương ứng với năm sinh dựa theo Bát quái, có tất cả 8 loại Mệnh Quái tương ứng với 8 quẻ trong Bát quái. Cũng giống như Trạch Quái, có thể phân mệnh quái thành hai nhóm: Mệnh quái Đông và Mệnh quái Tây.
 
d. Sự tương hợp, tương khắc giữa mệnh quái và trạch quái
Sự tương hợp giữa Trạch quái và Mệnh quái là nguyên tắc căn bản trong Phong Thủy khi gia chủ muốn lựa chọn nhà ở sao cho phù hợp với mình. Chẳng hạn như người thuộc Mệnh quái Đông nên cư trú trong nhà thuộc Quái trạch Đông, người thuộc Mệnh quái Tây nên cư trú trong nhà thuộc Quái trạch Tây mới gọi là tương hợp. Nếu tương hợp thì gia vận hưng thịnh, người trong nhà bình an. Ngược lại, nếu tương khắc thì mọi việc đều không thuận lợi, là hung.
 
Con người có thể tùy ý lựa chọn nhà ở cho vừa ý nhưng Mệnh quái của mỗi người thì cố định không thể chọn lựa hay thay đổi được. Vì vậy nên chọn nhà ở tương hợp với Mệnh quái của mình mới là điều tốt nhất.
 
Cách nghiên cứu theo Phong Thủy là lấy mệnh quái của người chủ gia đình (tức người trụ cột, có nguồn thu nhập chính trong gia đình) làm căn cứ để chọn Trạch Quái. Nếu có trường hợp Mệnh quái và Trạch quái không hợp nhau, gia chủ có thể dùng cách điều chỉnh cửa chính hướng theo vị trí tương hợp với Mệnh Quái để hóa giải.
 
Cách hóa giải là chọn hướng cửa chính hợp với Mệnh Quái để mang lại sự tốt lành cho gia chủ. Cửa là khí khẩu của nhà ở, nếu mở cửa chính ở phương cát phù hợp với vận mệnh của người trong nhà thì khí tốt lành sẽ được hấp thụ vào nhà, tất nhiên sẽ có ảnh hưởng tốt đối với mọi người.
Thí dụ như người có mệnh thuộc nhóm quái Đông, nếu ở trong ngôi nhà thuộc quái Tây thì nên chọn hướng cửa chính ở phương vị Chấn, Tốn, Ly hoặc Khảm. Nếu người thuộc nhóm quái Đông nên chọn hướng cửa chính ở phương vị Đoài, Kiền, Khôn hoặc Cấn.